LÒNG YÊU NƯỚC, ÁNH SÁNG VÀ TINH THẦN QUỐC TẾ

 Ngày 18 tháng 6 nǎm 1919, hội nghị Véc xây họp. Trước đó Bác có nói với các nhóm "Việt Nam yêu nước" như các cụ Phan Chu Trinh, Phan Vǎn Trường, Phan Cao Lục v.v... rằng:

- Bây giờ hội nghị này họp, ta phải có cái gì đưa đến đây. Chúng ta phải hành động, không thể nào ngồi yên với nó được.

 

 

Hồi ấy, Bác ở kế buồng cụ Phan Vǎn Trường. Bác nói ý và cụ Phan Vǎn Trường viết ra yêu sách nổi tiếng "Quyền của các dân tộc" gồm tám điểm, đòi Pháp thừa nhận quyền độc lập Nhóm Việt Nam yêu nước và Bác xem đi xem lại nhiều lần. Bác đồng ý và Bác ký vào bản yêu sách đó. Bác dùng tên Nguyễn A'i Quốc (6-1919). Bản yêu sách này đòi trả tự do cho các tù chính trị ở Đông Dương, bãi bỏ các tòa án đặc biệt, tự do báo chí, hội họp, học tập, đi ra nước ngoài,vv... Sau đó bản yêu sách được chuyển đến hội nghị Véc xây. Từ đó người nổi tiếng với tên Nguyễn A'i Quốc ở diễn đàn quốc tế và bắt đầu làm cho thực dân Pháp lo sợ. Chúng có điều tra về lai lịch Bác, nhưng chúng vẫn bất lực. ở Viện bảo tàng hiện nay có giữ một tài liệu của Tổng đốc Nghệ Tĩnh gởi cho Khâm sứ Trung kỳ như sau:

Thưa cụ lớn,
Cụ lớn đã giao cho tôi cai quản vùng An Tĩnh (tức Nghệ An Hà Tĩnh). Khi cụ lớn giao cho đi kiểm tra các huyện, các tổng, các làng, các lý trưởng đều nói rằng danh hiệu Nguyễn A'i Quốc chỉ là tên bịa đặt mà thôi, không có thật. 

An Tĩnh 13-9-1919
Lơ Tổng đốc Trần Đình Bắc.

Lúc bấy giờ Bác vận động việc phân hóa Đảng xã hội Pháp. Bỏ phiếu tán thành gia nhập Đệ tam quốc tế. Đồng thời Bác tố cáo những tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương và các thuộc địa. Đấy là một điều rất mới lạ. Vì lúc bấy giờ ở pháp bọn cầm quyền giới thiệu chính sách thuộc địa như là công việc xuất cảng vǎn minh. Chính vì thế khi thành lập Đảng cộng sản Pháp, Bác được cử phụ trách nhóm nghiên cứu các thuộc địa của Pháp. Nǎm 1920, trên cơ sở nhóm này, Bác cùng với những người bạn chiến đấu thành lập Hội liên minh những người thuộc địa, ra báo "Người cùng khổ". Đồng chí Bùi Lâm, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, là một trong những người chuyển tờ báo này về nước. Tờ báo ra đời nǎm 1922. Đến tháng 5 nǎm 1922, nhà cầm quyền Anh lấy áp lực bắt Hãng ảnh Lase đuổi Bác. Bác thất nghiệp. Trong lúc thất nghiệp, mỗi ngày Bác chỉ ǎn một bữa nhưng Bác vẫn hoàn chỉnh tác phẩm nổi tiếng viết xong nǎm 1922. Khi vua Khải Định cùng Phạm Quỳnh "Tây du" để bán thêm đất Việt Nam và bán máu 10 vạn thanh niên Việt Nam cho thực dân Pháp, đem đi làm bia đỡ đạn, Bác viết vở kịch "Con rồng tre" lên án chủ nghĩa bù nhìn ở Việt Nam, bán đất Việt cho thực dân Pháp. Qua hai tác phẩm này, đồng chí Tim Bớc, Chủ tịch Đảng cộng sản Canada, đã phát biểu:

"Đồng chí Hồ Chí Minh là người chống đế quốc triệt để, chống phong kiến triệt để". Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cũng đều đánh giá rất cao hai tác phẩm này.

Bác đã nghiên cứu về vấn đề ruộng đất của Các Mác rất sâu sắc và Bác đã được Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Pháp cử đi dự Đại hội quốc tế nông dân. Tại Đại hội, Bác đã đọc bản tham luận nổi tiếng "Đời sống của nông dân ở các nước thuộc địa". Trong tác phẩm này, Bác đã vạch ra con đường đi của nông dân ở các nước thuộc địa. Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng đã có lần phát biểu "Hai vai của Bác một bên gánh công nhân, một bên gánh nông dân. Dựa trên hai vai công-nông đó, Bác đã đoàn kết dân tộc lại, triệu người như một để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác". Bản tham luận này của Bác được Đại hội quốc tế nông dân họp tháng 10 nǎm 1923 đánh giá rất cao. Đại hội đã bầu Bác vào Ban Chấp hành quốc tế nông dân. Lúc đó Bác vẫn lấy tên Nguyễn A'i Quốc. 

Nǎm 1923, Bác còn tham gia hội những người yêu nghệ thuật, hội hướng dẫn tham quan du lịch.
Thời kỳ này, Bác lại được dịp đi khắp thế giới. Các đồng chí Trung ương Đảng cộng sản U'c cho biết Bác đã đến U'c. Các đồng chí nói:
Đồng chí Quảng Châu lúc đó đến châu U'c đã đặt cơ sở với các nhà yêu nước của chúng tôi.

Gần đây, Đảng cộng sản Xrilanka cũng cho biết Bác có đến Xrilanka và ở khách sạn "Thắng lợi" hai ngày, để gặp các lãnh tụ.

Bác vào Hội những người yêu nghệ thuật không phải là trên danh nghĩa mà vào Hội những người yêu nghệ thuật là để hoạt động tích cực. Nhà điện ảnh Hà Lan Giôrít Iven trong dịp sang thǎm nước ta, đến Hà Nội, đã được Bác mời đến để Bác hỏi chuyện.

Hôm ấy vào một đêm hè sau khi chúng tôi xem bộ phim "Vĩ tuyến thứ 17" nổi tiếng của mình, nhà điện ảnh Hà lan Giôrít Iven được Bác tiếp. Đây là một vinh dự lớn và quá bất ngờ đối với ông. Vừa gặp Bác, Bác đã trò chuyện thân mật như người nhà.

- Tôi nhiều tuổi hơn, tất nhiên là anh. Chú ít tuổi hơn, tất nhiên chú là em. Có phải không nhà quay phim Giôrít Iven?
Bác và Iven cùng cười vui vẻ. Bác lại hỏi tiếp:
- Chú định ở đây trong bao lâu?
- Thưa Chủ tịch, tôi ở đây 6 tháng.
Như thế ít quá! Phải một nǎm hay là lâu hơn nữa, mang cả "thím" ấy sang đây. Nhân dân Việt Nam chúng tôi và tôi có cơm thì chú ǎn cơm, có cháo thì ǎn cháo, không để chú đói đâu Bây giờ chú mới biết tôi. Nhưng tôi đã biết chú từ nǎm 1922, 1923 rồi.
Iven rất cảm động, nhưng cũng rất ngạc nhiên:
- Thưa Chủ tịch, xin Chủ tịch cho tôi được nghe câu chuyện cũ gần nửa thế kỷ trước.
Bác im lặng một lúc, rồi Bác bắt đầu nhắc cho Iven nhớ lại:
Vào những nǎm đó nhà điện ảnh Giôrít Iven vừa hoàn thành xuất sắc tác phẩm "Tư bản và tôn giáo". Cuốn phim ngụ ý vạch mặt bọn phong kiến trước đây lợi dụng tôn giáo để áp bức, bóc lột. Bây giờ tư bản cũng làm như vậy. Bọn chúng dùng tôn giáo để đi chiếm thị trường, cướp đất làm thuộc địa. Vua Hà Lan lúc đó rất bực tức với cuốn phim của Giôrít Iven, ra lệnh trục xuất nhà nghệ sĩ trẻ và có biệt tài ra khỏi đất Hà Lan. Bọn tư bản thì tập trung đả kích đồng chí. Trong khi đó Bác đã viết bài đǎng trên báo Nhân Đạo (I'Humnité) bênh vực cuốn phim ấy và chống lại những luận điệu vu cáo của bọn tư bản. Khi trở về Pháp, Giôrít Iven đã tìm được tờ báo mà Bác đã viết bài nói về bộ phim của mình. Đọc lại những bài báo của Bác viết từ những thập niên 20, Giôrít Iven cảm động nói:
- Đồng chí Hồ Chí Minh không những là một nhà quân sự lỗi lạc một nhà chính trị thiên tài mà còn là một nhà nghệ thuật lớn: vì nhừng bài báo đồng chí viết tháng 6 nǎm 1922 chúng tôi đem ra so sánh có nhiều người trên thế giới hiện nay viết về nghệ thuật của tôi chưa đánh giá được như đồng chí Hồ Chí Minh bấy giờ.

Nǎm 1924, Bác đi dự Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5. Bác đi xe lửa và mặc những bộ quần áo sang trọng để tránh bọn mật thám Pháp theo dõi. Bác cải trang rất giỏi. Đồng chí Lông Gô (người Pháp) trong một bài báo nói về Bác đã viết: "Chỉ có anh Nguyễn A'i Quốc là người Việt Nam dám lên tiếng chống thực dân Pháp". ở ngay giữa Paris, thủ đô nước Pháp, Bác vẫn lên tiếng chống thực dân Pháp. Đó thật là một điều rất dũng cảm. Bác đến Lêningrát, đồng chí Mácxen Casanh, người được Đảng cộng sản Pháp cử đi Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5 và có nhiệm vụ tổ chức đón Bác. Hôm đó đồng chí Casanh (Cachin) cho đồng chí Pôn ra ga xe lửa đón Bác. Khi đồng chí Pôn đến hỏi xem Bác có phải là Nguyễn A'i Quốc, nếu đứng các câu hỏi sẽ đưa về Mạc Tư Khoa. Thấy một người châu A' gầy gò, giống như ảnh đem theo, đồng chí Pôn hỏi bằng tiếng Nga:
- Đồng chí đi đường nào đến đây?
- Tôi đi đường bí mật? 
- Đồng chí đến đây mất mấy ngày?
- Tôi đến đây hai ngày!
- Đồng chí biết tiếng Nga từ bao giờ?
- Đồng chí đến đây hai ngày mà đã nói được tiếng Nga à?
- Vâng, đến đất nước của Lênin phải biết tiếng của Lênin.
Đồng chí Pôn rất khâm phục Bác và đưa Bác về Mạc Tư Khoa giới thiệu với Ban tổ chức của Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5.
Đồng chí Tim Bớt, Chủ tịch Đảng cộng sản Canada có kể lại:
- Lúc đồng chí đến phòng số 8 khách sạn Lux, tôi và Gécmanettô đang ngồi nói chuyện với nhau. Một người trong Ban tổ chức giới thiệu với chúng tôi: Hôm nay có thêm một đồng chí châu A' ở cùng buồng này nữa. Đồng chí châu A' tiến lên giơ mũ chào và tự giới thiệu: "Tôi là Nguyễn A'i Quốc, vừa ở Paris đến, gởi lời chào đến các đồng chí thân mến". Chúng tôi mời đồng chí Nguyễn A'i Quốc ngồi. Đồng chí Gecmanéttô và đồng chí Tôgơliátti vừa đưa thuốc lá ra mời, thì đồng chí Nguyễn A'i Quốc bật diêm cho các đồng chí đó hút thuốc. Do cử chỉ lịch sự ấy, chúng tôi thấy rất mến đồng chí châu A' này, ngay từ dầu. Các đồng chí thay nhau hỏi thǎm tình hình đấu tranh của công nhân ở Hồng Kông như thế nào? Rồi ở Thượng Hải ra làm sao? Đấy là sự tự phát hay do giai cấp vô sản lãnh đạo? Lúc đó chúng tôi tưởng đồng chí Nguyễn A'i Quốc là người Trung Quốc. Nhưng không phải đồng chí đã nói rằng đồng chí là người Việt Nam. Tôi hỏi: Việt Nam ở đâu? đồng chí Nguyễn A'i Quốc cầm ngay một tờ giấy vẽ ngay bản đồ châu A', bản đồ Đông Dương, giới thiệu Campuchia, Lào, Việt Nam, Pháp chiếm 1858. Đồng chí Nguyễn A'i Quốc giới thiệu rất trôi chảy.

Chuyện triều đình nhà Nguyễn đã bán đất nước Việt Nam cho thực dân Pháp nǎm 1884. Chúng chia đất nước thành ba kỳ, Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Chia thành chế độ thuộc địa và bảo hộ khác nhau ở ba kỳ ấy. Đồng chí kể rất say sưa về phong trào cách mạng chống Pháp và tố cáo những tội ác dã man của bọn thực dân đàn áp các phong trào và dìm trong biển máu. Đồng chí cũng không quên nói tới triển vọng của các phong trào ấy như thế nào. Nói xong đồng chí Nguyễn A'i Quốc xin lỗi đi ra phố và đến khuya mới về? Khi đồng chí Nguyễn A'i Quốc về, Gécmanéttô đang ngồi viết gì tôi không biết. Còn tôi đang chuẩn bị đi ngủ. Tôi nhìn thấy đồng chí Nguyễn ái Quốc ǎn mặc đơn sơ quá, người cứ rét run lên. Tôi hỏi đồng chí đi đâu về. Đồng chí trả lời: "Đi viếng Lênin". Đồng chí Gécmanéttô người hay châm biếm, cười và nói: "Không sợ mất tai à?" (Hôm ấy Mạc Tư Khoa lạnh dưới 40o âm). Đồng chí Nguyễn A'i Quốc vui vẻ trả lời: "Khi người ta có nghị lực, người ta sẽ vượt qua được tất cả! Lúc đó đồng chí đội mũ bê rê, không có đi giày tuyết, không có khǎn quàng, không có áo choàng. Đồng chí Nguyễn A'i Quốc đi viếng Lênin từ mười giờ sáng đến chín giờ khuya mới về. Câu nói của đồng chí Nguyễn A'i Quốc làm tôi suy nghĩ và nghiên cứu về Việt Nam. Và trước khi sang Việt Nam, tôi tự nhủ mình là người hiểu Việt Nam hơn ai hết?" 

ở Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5, Bác đọc bản tham luận: Cách mạng ở các nước thuộc địa và vấn đề chủng tộc da đen, v.v... Bác cũng đã dự Đại hội quốc tế Nông dân, quốc tế Phụ nữ, quốc tế Thanh niên. Bác đã được quốc tế cộng sản chỉ định vào Ban chấp hành những người cộng sản châu A', phụ trách Đông phương bộ và đặc trách Cục Phương Nam. Tháng 12 nǎm 1924, Bác về Trung Quốc và lấy tên là Lý Thụy. Bác nghiên cứu một số thanh niên Tâm Tâm xã, xây dựng cơ sở chuẩn bị thành lập Đảng. Bác biên soạn tài liệu "Đường Kách mệnh". Đây là tài liệu Bác soạn để truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin cho giai cấp công nhân Việt Nam.

Trên cuốn tài liệu này do nhà xuất bản "Dân tộc bị áp bức liên hiệp tuyên truyền bộ" ấn hành, có đóng dấu mờ "A' châu bị áp bức liên hiệp hội". Dòng chữ đó cho ta thấy khi về Trung Quốc, Bác đã lập ra Hội này và Bác là Tổng thư ký của Hội. Nǎm 1925, khi về qua Quảng Châu, Bác đã thành lập "A' châu bị áp bức liên hiệp hội".

Dưới đầu đề "Tư cách một người Kách mệnh", trong bài đầu cuốn sách Bác dạy cán bộ cách mạng phải:
- Cần kiệm mà không ti tiện, cẩn thận mà không nhút nhát, nhẫn nại chí công vô tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất. Giữ bí mật. Đối với từng người phải khoan thứ, với đoàn thể thì nghiêm, có lòng bày vẽ cho người, hay xem xét người. Làm việc phải xem xét hoàn cảnh kỹ lưỡng rồi quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể...

Đấy là tóm tắt ý kiến đầu tiên Bác truyền bá Chủ nghĩa Mác Lênin trong giai cấp công nhân Việt Nam. Trên cơ sở này, Bác thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Lúc đầu có 5 người: Hồ Tùng Mậu, Lê Huy Điểm, Lê Hồng Phong, Lễ Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên. Sau một tuần lễ tổ chức thêm 3 người nữa là Vương Thúc Anh, Lê Quảng Đạt, Lâm Đức Thụ. Trong số 8 người Bác lại tổ chức 5 người là thanh niên cộng sản đoàn: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,
Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Đạt. Dồng chí Lê Quảng Đạt được cử về tổ chức đưa thanh niên trong nước ra để Bác đào tạo. Đoàn đầu tiên ở trong nước đưa ra là đoàn đồng chí Trần Phú đi ngày 14 tháng 7 nǎm 1929. Khi gặp đoàn thanh niên ở trong nước ta, để giữ bí mật Bác nói tiếng Trung Quốc. Bác bảo: 

- Các ông ở Việt Nam sang, hôm nay hội nghị người ta sẽ liên hoan đón các ông. Các ông cầm lấy cái này mà đọc. Đến tối liên hoan người ta sẽ hát đấy, mình sẽ hát theo người ta.

Đó là bài ca quốc tế. Nǎm 1967, Viện nghiên cứu Lênin (Liên Xô) có đề nghị Viện bảo tàng cách mạng Việt Nam xác minh xem ai là người dịch bản quốc tế ca đầu tiên ở Việt Nam. Viện bảo tàng đã đi sưu tầm và được các đồng chí đương thời kể lại cho biết chính Bác là người dịch đầu tiên. Viện bảo tàng cách mạng đã làm hồ sơ khoa học gởi lên trình Bác. Bác đã nhận là Bác dịch. Nhưng Bác còn ghi chú thêm người dịch thành lời để chúng ta hát bây giờ là đồng chí Trần Phú và đồng chí Lê Hồng Phong (dịch cuối nǎm 1929 đầu nǎm 1930 ở trường Đông Phương, Mạc Tư Khoa).

Đấy là bản quốc tế ca do Bác dịch nghĩa lần đầu tiên bằng thể thơ lục bát:

Hỡi ai nô lệ trên dời
Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên
Bất bình này chịu sao yên
Phá cho tan nát một phen cho rồi.
Bao nhiêu áp bức trên đời
Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha
Cuộc đời nay đã đổi da
Ta xưa con ở, nay là chủ ông
Trận này là trận cuối cùng
Â`m ầm đoàn lực đùng đùng Đảng cơ
Lanh téc na xi on nan lơ
Â'y là nhân đạo ấy là tự do!

Những người "Thanh niên cách mạng đồng chí hội" đưa đồng chí Lê Huy Điểm về qua Thái Lan và tổ chức một số thiếu niên ở trong nước và con Việt kiều. Trong số này có người Bác đưa về phụ trách Đoàn Thanh niên, có người vào học viện quân sự của Nga hoặc của Trung Quốc. Khi đào tạo xong, Bác thường nói:

- Bây giờ các ông phải về nước. Nước các ông đang bị đế quốc phong kiến thống trị, đồng bào khổ cực như thế, lao động thật cực khổ, khó nhọc như thế. Về nước các ông nên "đi vô sản" (tức là thâm nhập thực tế lao động).

Quan điểm của Lênin là lao động để xây dựng Đảng. Vận dụng quan điểm đó, Bác lấy "vô sản hóa" để xây dựng Đảng. Đồng chí Trần Phú về nhà, thấy ảnh mình địch cho dán khắp nơi để lùng bắt. Biết chuyện đó, Bác lại gọi đồng chí Trần Phú sang và cử đi học trường Đại học Đông phương. Trong thời kỳ ở Quảng Châu, Bác mở 5 lớp đào tạo được 180 đồng chí đưa về nước và ra tờ báo Thanh niên. Nǎm 1928, Bác về Thái Lan và lấy tên là Thầu Chín. Thầu Chín tiếng Lào có nghĩa là ông già, Bác về xây dựng cơ sở đào tạo cán bộ cách mạng ở U Đon, Noong Khai, Sa Con, v.v... U Đon là trung tâm cuộc vận động Việt kiều ở Xiêm. Có ngày Bác đi bộ từ U Đon đến Xa Vang 70 cây số. Cán bộ chúng ta học tập lúc này có nhiều khó khǎn, thiếu thốn về vật chất, sức khỏe yếu, bị ốm đau luôn. Tuy Bác có những tiêu chuẩn quốc tế cộng sản đài thọ, nhưng Bác vẫn làm thuốc, lấy củi, đi cày đi câu để kiếm thêm tiền nuôi anh em. Người dạy Bác nghề bốc thuốc là cụ Đặng Vǎn Cáp, sau cách mạng làm Hội trưởng Hội Đông y Việt Nam. 

Một hôm Bác đi cày về, đang dắt bò lững thững trên đường làng, thì em bé con chủ nhà đã đón từ đầu thôn, thét: 
- Ông Chín Thầu. Tại sao ông về sớm thế? Ông đi ngay đi ông về sớm như thế này, tôi sẽ mách bố tôi đấy. Ông về sớm không được đâu?
Nghe tiếng nói của em bé đột ngột như vậy, Bác nhanh trí biết ngay có chuyên chẳng lành. Bác đánh bò quay trở lại buộc dây vào một chiếc cọc rồi chạy. Hồi đó là cuối nǎm 1925, bọn mật thám quốc tế theo dõi Bác rất sát. Nó lùng sục vào nhà này để bắt Bác. Em bé con ông chủ nhà hàng ngày rất quý Bác thường quấn quít bên Bác. Em tìm cách chạy ra đồng báo tin cho Bác sự việc này. Sự nhanh trí của Bác trước thái độ không bình thường của em bé Thái Lan đã giúp Bác thoát khỏi hiểm nguy.

 

TIN KHÁC

login kho truyen tro choi trang tho doi tntp ho chi minh